Những chỉ định Cộng hưởng từ (MRI) tuyến vú hiện nay | Bệnh viện Hoàn Mỹ Cửu Long

Những chỉ định Cộng hưởng từ (MRI) tuyến vú hiện nay

22-07-2019
Việc chụp nhũ ảnh hằng năm được bắt đầu ở tuổi 40, tự khám vú và khám định kỳ tuyến vú mỗi năm là những kiến nghị trong việc phát hiện sớm ung thư vú ở những bệnh nhân không có triệu chứng. Vai trò của MRI trong việc phát hiện ung thư vú được xác nhận rõ ràng. Độ nhạy của MRI tuyến vú khoảng gần 100% trong việc phát hiện ung thư vú xâm lấn có kích thước chỉ vài milimet; Tuy nhiên, độ đặc hiệu được báo cáo đối với những tổn thương ung thư vú thay đổi từ 30- 90%.

Sau khi FDA chấp thuận vào năm 1991, MRI vú đã được chỉ định để phân giai đoạn ung thư vú trước khi bảo tồn vú, cắt bỏ khối u nhiều tâm, các trường hợp hình ảnh tuyến vú qui ước không kết luận được và tìm kiếm khối u nguyên phát tuyến vú còn tiềm ẩn. Trong 5 năm qua và những năm gần đây, Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ( American Cancer Society), Hiệp hội Ung bướu học lâm sàng Hoa Kỳ( American Society of Clinical Oncology), Hiệp hội các Nhà Phẫu thuật vú Hoa Kỳ( American Society of Breast Surgeon) và Hiệp hội Hình ảnh học Hoa Kỳ( American College of Radiology) đã công nhận và khuyến cáo việc sử dụng MRI vú để bổ sung cho thăm khám thực thể, chụp nhũ ảnh và siêu âm ở một số bệnh nhân đặc biệt. Những chỉ định này được tóm tắt trong Bảng 1 và 2.
 

Bảng 1. Các khuyến cáo lâm sàng của Hiệp hội Hình ảnh học Hoa Kỳ trong việc thực hiện MRI vú

• Xác định bản chất tổn thương ở các trường hợp không kết luận được bằng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh tuyên vú thường qui.
• Đánh giá mức độ lan rộng của tổn thương ở cả ung thư biểu mô ống tuyến và ung thư tiểu thùy thâm nhiễm.
• Đánh giá xâm lấn sâu đến cân cơ.
• Kiểm tra vú đối bên ở những bệnh nhân bị ung thư vú.
• Đánh giá trước, trong và sau đợt hóa trị.
• Đánh giá tổn thương còn sót lại sau phẫu thuật cắt bỏ khối u.
• Nghi ngờ u tái phát ở những bệnh nhân có hoặc không có tạo hình tuyến vú sau phẫu thuật.
• Có tổn thương hạch nách ác tính mà khối u nguyên phát chưa biết.
• Tầm soát ung thư vú ở những bệnh nhân có nguy cơ cao.
• Khảo sát vú rất to có hoặc không có túi ngực.

(From Harms SE, Morris E, Committee on Breast Cancer, et al. ACR Practice Guideline for Performance of MRI of the Breast. ACR Practice Guidelines and Technical Standards 2004;11:419-424.)

Bảng 2. Những chỉ định chụp cộng hưởng từ( MRI) tuyến vú

• Có di căn hạch nách ở trường hợp nghi ngờ ung thư vú nguyên phát còn tiềm ẩn.
• Đánh giá mức độ xâm lấn tại chỗ của u hoặc phát hiện thêm tổn thương vú đối bên ở những trường hợp đã xác định là ung thư vú.
• Đánh giá đáp ứng với hóa trị và điều trị nội tiết tố thay thế.
• Tầm soát những bệnh nhân nguy cơ rất cao, đặc biệt ở những bệnh nhân nghi ngờ hoặc được chứng minh là có đột biến gen BRCA.
• Đánh giá thêm những tổn thương nghi ngờ trên hình ảnh qui ước và thăm khám lâm sàng mà vẫn không xác định được dù đã khám thực thể cẩn thận và thực hiện các phương pháp hình ảnh tuyến vú.

(*Approved by the American Society of Breast Surgeons. Data from Dardik A, American Society of Breast Surgeons. Use of magnetic resonance imaging in breast oncology. J Am Coll Surg 2005;200:742.)


Kỹ thuật - diễn giải và viết kết quả.

Để có được chẩn đoán trong thăm khám MRI vú, một nam châm từ trường cao và anten( coil) bề mặt tuyến vú chuyên dụng thật cần thiết. Những thiết bị chuẩn này đã cải thiện việc xóa mỡ, tạo từ trường đồng nhất, tăng tỉ lệ tín hiệu với nhiễu và giảm ảnh giả do chuyển động. Và để phát hiện các tổn thương nhỏ một cách hiệu quả, nên thực hiện các lát cắt liên tiếp nhau có độ dày dưới 3mm với độ phân giải nhỏ hơn 1mm.

Ngoại trừ đánh giá vỡ hoặc rò rỉ túi ngực, hình ảnh động( dynamic) ba chiều có tiêm thuốc tương phản phải được chụp ở pha sớm sau tiêm nhằm thu thập đầy đủ dữ kiện để đánh giá tưới máu mô và sau cùng là phát hiện ung thư vú. Qui trình( protocol) chuẩn chụp MRI vú gồm các chuỗi xung trên ba mặt phẳng: chuỗi T1W không xóa mỡ; chuỗi T2W xóa mỡ không tiêm trên mặt phẳng ngang và đứng dọc; và chuỗi T1W xóa mỡ trước tiêm. Sau khi truyền tĩnh mạch chất tương phản từ chứa Gadolinium liều 0,1- 0,2 mmol/kg, chuỗi xung T1W xóa mỡ sau tiêm được thực hiện khoảng 20 đến 60 giây sau đó và chụp tiếp 02 đến 05 chuỗi xung bổ sung sau tiêm. Các dữ kiện từ hình ảnh động được hậu xử lý để tạo ra các đường cong bắt thuốc, hình ảnh xóa nền và đỉnh bắt thuốc sau tiêm. Kỹ thuật viên được đào tạo bài bản là rất cần thiết bởi vì các sai sót kỹ thuật hay bỏ lỡ pha sớm sau tiêm có thể dẫn đến các trường hợp âm tính giả.

Việc diễn giải kết quả MRI vú phải phù hợp với kết quả nhũ ảnh, thăm khám lâm sàng tuyến vú cũng như tiền sử phẫu thuật. Nếu phụ nữ ở trước tuổi mãn kinh, nên chụp MRI vào ngày thứ 7 đến ngày thứ 10 trong chu kỳ kinh để tránh khả năng dương tính giả do tăng bắt thuốc sinh lý của vú. Giống như nhũ ảnh, các thuật ngữ MRI vú và hệ thống phân loại BIRADS( Breast Imaging Reporting and Data System) dựa trên các đặc điểm về hình thái, kiểu bắt thuốc tương phản đã được sử dụng. Bờ không đều, bờ gai, kiểu bắt thuốc ngoại vi của u vú là những đặc điểm về hình thái có giá trị dương tính cao nhất đối với khối u ác tính. Vì có tăng tính thấm của các mạch máu trong u, nên hầu hết ung thư vú có đường cong bắt thuốc kiểu thải nhanh( washout) và mạnh giai đoạn đầu và sớm. Dạng thải nhanh hay type 3 được cho là tăng nguy cơ ung thư gấp 5 lần khi so sánh với những tổn thương có đường cong bắt thuốc kiểu tăng dần( progressive) hay type 1. Đối với những tổn thương có hình thái không rõ thì những dạng đường cong bắt thuốc theo thời gian thật hữu ích để làm rõ thêm chẩn đoán.

Ở một số trung tâm, kỹ thuật chẩn đoán có trợ giúp của máy vi tính( Computer- Aided Diangosis: CAD) được sử dụng nhằm làm rõ và cải thiện tính đặc hiệu cũng như tiết kiệm thời gian cho bác sỹ chẩn đoán hình ảnh. Các hệ thống CAD sẵn có trên thị trường có thể tạo ra những đường cong bắt thuốc theo thời gian thực và tạo ra các kiểu phủ màu bằng bản đồ tưới máu mô. Khả năng hậu xử lý trực tiếp của hệ thống CAD cũng giúp tiết kiệm thời gian cho các kỹ thuật viên.

 

BS.Nguyễn Lê Minh Thanh, Khoa Chẩn đoán Hình ảnh - Bệnh viện Hoàn Mỹ Cửu Long.

Biên dịch từ: Current Indications for Breast Magnetic Resonance Imaging.Kristina A. Siddall, MD, Avice O’Connell, MD,Tulsi Dass, MD, and Lydia Liao, MD, PhD, MPH – CDR: Contemporary Diangostic Radiology.