Tìm Hiểu Về Bệnh Loãng Xương | Bệnh viện Hoàn Mỹ Cửu Long
Chấn Thương - Chỉnh Hình

Tìm Hiểu Về Bệnh Loãng Xương

27-07-2019

Trong hầu hết các trường hợp, xương bị yếu khi bạn có lượng calcium, phospho và muối khoáng khác thấp.
Hậu quả chung của loãng xương là gãy xương - phần lớn là gãy cột sống, xương chậu hoặc cổ tay. Loãng xương thường xảy ra ở phụ nữ, nhưng vẫn xảy ra ở nam giới.
Thật sự không bao giờ quá trễ hoặc quá sớm để làm một điều gì đó về loãng xương. Từng bước, bạn có thể làm cho xương mạnh mẽ và khoẻ mạnh trong suốt cuộc đời bạn

Dấu hiệu và triệu chứng
Trong giai đoạn sớm của sự mất xương, thông thường không có triệu chứng đau khoặc các dấu chứng khác. Nhưng mỗi khi xương đã bị yếu do loãng xương, bạn sẽ có những dấu chứng của loãng xương, gồm:

o Đau lưng, có thể nặng nếu có gãy hoặc lún xẹp cột sống.
o Giảm chiều cao vĩnh viễn kèm theo tư thế gù.
o Gãy cột sống, xương chậu, cổ tay hoặc các xương khác.

Nguyên nhân
Chiều dài của xương phụ thuộc kích thước và mật độ của chúng; mật độ xương phụ thuộc một phần vào calcium, phospho và các loại muối khoáng khác của xương. Khi xương của bạn có muối khoáng ít hơn bình thường, chúng sẽ yếu đi và thật sự mất cấu trúc hỗ trợ bên trong.


Quá trình tái tạo xương
Xương liên tục được thay đổi, xương mới được tạo ra, xương cũ bị hủy đi, một quá trình được gọi là tái tạo xương hay là sự thay thế xương

Một chu kỳ thay thế xương cần khoảng 2 đến 3 tháng. Khi còn trẻ, cơ thể bạn tạo xương mới nhanh hơn sự hủy xương cũ và khối xương của bạn tăng lên. Khối xương của bạn đạt đến tối đa ở tuổi 30 (peak bone mass in mid - 30s). Sau đó, xương được tái tạo liên tục, nhưng sự mất xương của bạn nhẹ nhàng hơn là sự tái tạo. Ở giai đoạn mãn kinh, khi nồng độ estrogen thấp xuống, xương ở phụ nữ bị mất đi một cách đột ngột. Mặc dù có nhiều cơ chế đóng góp vào sự mất xương, nhưng nguyên nhân hàng đầu ở phụ nữa là sự giảm sản xuất estrogen trong thời kỳ mãn kinh.

Nguy cơ phát triển loãng xương phụ thuộc vào khối xương (bone mass) đạt được của bạn vào giữa độ tuổi 25 đến 35 tuổi và cách mất xương nhanh chóng sau đó. khối xương tối đa của bạn cao hơn thì xương của bạn còn nhiều hơn trong “ngân hàng” và khả năng loãng xương ít hơn. Không đủ vittamin D và calcium trong chế độ ăn hằng ngày sẽ dẫn đến khối xương tối đa (peak bone mass) thấp và sự mất xương nhanh lên sau này.

Làm gì để giữ xương khoẻ mạnh
Ba yếu tố cần thiết giúp cho bạn giữ xương khoẻ mạnh trong suốt cuộc đời bạn:

o Thường xuyên tập thể dục.
o Cung cấp đủ số lượng calcium
o Cung cấp đủ số lượng vitamin D, yếu tố cần thiết để hấp thụ calcium.

Yếu tố nguy cơ
Một số yếu tố có thể cho là làm tăng sự phát triển loãng xương, gồm:

o Giới tính. Gãy xương do loãng xương ở phụ nữ cao gấp khoảng 2 lần so với nam giới bởi vì khối xương (bone mass) của phụ nữ thấp hơn và tuổi thọ lâu hơn, ở giai đoạn mãn kinh, có sự hạ thấp đột ngột nồng độ estrogen thúc đẩy sự mất xương. Ở phụ nữ mãnh khảnh, khung xương nhỏ là những người thuộc diện có nguy cơ. Nam giới có nồng độ kích thích tố nam testosterol thấp cũng thuộc diện tăng nguy cơ. Nguy cơ loãng xương ở nam giới cao nhất là từ tuổi 75 trở đi.
o Tuổi tác. Càng lớn tuổi nguy cơ càng cao. Xương của bạn yếu đi theo tuổi tác của bạn.
o Chủng tộc. Nguy cơ loãng xương lớn nhất nếu bạn có nguồn gốc da trắng hoạc Đông Nam Á.
o Tiền sử gia đình. Loãng xương có sự ảnh hưởng của tiền sử gia đình. Nếu bạn có cha mẹ hoặc anh em ruột bị loãng xương thì bạn có nguy có loãng xương cao hơn, đặc biệt nếu tiền sử gia đình bạn có người bị gãy xương.
o Khung xương. Những người quá gầy ốm hoặc có khung xương của cơ thể nhỏ thường dẫn đến nguy cơ cao bởi vì khối xương (bone mass) nhỏ.
o Sử dụng thuốc lá. Thật sự hiểu biết về vai trò của thuốc lá trong việc gây loãng xương chưa được rõ ràng, nhưng các nhà khoa học biết rằng sử dụng thuốc lá góp phần vào việc làm yếu xương.
o Tình trạng estrogen của phụ nữ. Bạn có nguy cơ thấp hơn nếu bạn có thời kỳ mãn kinh trễ hoặc bạn bắt đầu có kinh sớm hơn độ tuổi trung bình. Nhưng nguy cơ loãng xương của bạn tăng lên nếu sự thể hiện estrogen bi thiều hụt như chu kỳ kinh nguyệt không đều hoặc mãn kinh trước tuổi 45.
o Ăn uống thất thường. Bạn có chứng ăn kém hoặc ăn quá nhiều (anorexia nervosa or bulimia) thì có nguy cơ cao hơn về mật độ xương ở phần thấp của lưng và hông.
o Sử dụng corticosteroid. Sử dụng corticosteroid lâu dài như prednisone, cortisone, dexamethasone, prednisolone sẽ gây hại xương. Chỉ định sử dụng các loại thuốc này thông thường để điều trị các bệnh mãn tính như hen suyễn, viêm khớp dạng thấp, bệnh vảy nến. Nếu bạn cần phải sử dụng corticosteroid lâu dài, bác sĩ của bạn nên giám sát mật độ xương của bạn và tư vấn sử dụng thuốc khác để giúp phòng ngừa sự mất xương.
o Nội tiết tố tuyến giáp. Quá nhiều hormon tuyến giáp cũng có thể gây mất xương. Điều này có thể xảy ra do cường giáp (hyperthyroidism) hoặc do sử dụng thuốc hormon tuyến giáp quá nhiều để điều trị bệnh nhược giáp (hypothyroidism).
o Thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc ( selective serotonin reuptake inhibitors - SSRIs). Nghiên cứu khoa học năm 2007 chứng minh rằng mật độ khoáng xương thấp trong số những người hiện đang sử dụng thuốc SSRIs so với những người tham gia nhóm chứng không sử dụng SSRIs. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu này không có nghĩa là SSRIs gây nên mất xương hoặc loãng xương. Cần thêm nhiều nghiên cứu khác để có sự hiểu biết đầy đủ về sự liên quan giữa việc sử dụng SSRIs và mật độ xương thấp. Chứng cớ hiện tại không cho rằng bạn nên ngưng sử dụng SSRIs vì lo lắng mất xương.
o Các thuốc khác. Sử dụng lâu dài thuốc chống đông máu heparin, thuốc điều trị ung thu methotrexat, thuốc lợi tiểu, thuốc kháng acid dạ dày chứa aluminum cũng gây mất xương.
o Ung thu vú. Phụ nữ sau mãn kinh có ung thư vú sẽ tăng nguy cơ về loãng xương, đặc biệt nếu họ được hoá trị liệu hoặc các chất ức chế nhân thơm có tác dụng kìm hãm estrogen như anastrozole, letrozole. Điều này thì không đúng đối với phụ nữ được điều trị với tamoxifen mà nó có thể làm giảm nguy cơ gãy xương.
o Cung cấp calcium thấp. Sự thiếu hụt lâu dài calcium đóng vai trò lớn trong việc phát triển loãng xương. sự cung cấp calcium thấp góp phần làm nghèo mật độ xương, sự mất xương sớm xảy ra và tăng nguy cơ gãy xương.
o Các hoàn cảnh bệnh tật làm giảm sự hấp thu calcium. Phẫu thuật cắt bỏ dạ dày (gastrectomy) có thể anh hưởng đến sự hấp thu calcium của cơ thể. Bệnh Crohn’s, thiếu vitamin D, chứng chán ăn (anorexia), bệnh Cushing’s.
o Lối sống ít vận động (sedentary lifestyle). Sức khoẻ của xương bắt đầu từ thơ ấu. Trẻ em hoạt động phong phú và cần nhu cầu đầy đủ về số lượng calcium chứa trong thức ăn để cho mật độ xương tốt nhất. Bất kỳ loại hình thể dục nào đều hửu ích, nhưng hình như nhảy là hửu ích đặc biệt cho sức khoẻ của xương. Tập thể dục thường xuyên là quan trọng, bạn có thể gia tăng mật độ xương của bạn ở bất kỷ tuổi tác nào.
o Sử dụng quá nhiều caffeinated soda. Sự liên kết giữa loãng xương và cà phê soda (caffeinated soda) không rõ ràng, nhưng caffeine có thể ảnh hưởng đến sự hấp thu calcium và tác dụng lợi tiểu của nó làm tăng sự mất muối kháng. Ngoài ra, phosphoric acid trong soda cũng góp phần vào sự mất xương bằng cách thay đổi cân bằng acit trong máu của bạn. Nếu bạn uống cà phê soda (caffeinated soda), bạn vẫn có đủ calcium và vitamin D nếu bạn bổ sung từ các nguồn thức ăn hoặc thuốc bổ trợ khác.
o Nghiện rượu. Đối với nam giới, nghiện rượu là một nguy cơ hàng đầu về loãng xương. Sử dụng rượu quá mức làm giảm sự thành lập xương và ảnh hưởng đến khả năng hấp thu calcium của cơ thể.
o Ức chế. Những người trãi qua ức chế thần kinh nghêm trọng có tăng tỷ lệ mất xương.

Khi nào đến bác sĩ để tư vấn chuyên môn
Phát hiện sớm loãng xương là quan trọng. Xem xét các yếu tố nguy cơ của bạn rồi thảo luận chiến lược phòng ngừa với bác sĩ. Nếu bạn là phụ nữ thì làm việc này tốt nhất trước khi mãn kinh.

Sàng lọc và chẩn đoán
Sự mất xương ở mức độ trung bình, chưa đủ nặng thì chưa gọi là loãng xương, nhưng nó làm gia tăng nguy cơ loãng xương. Bác sĩ có thể phát hiện giai đọan sự mất xương ở giai đoạn trung bình và các dấu hiệu sớm của loãng xương bằng cách sử dụng các máy móc khác nhau để đo mật độ xương.

Đo mật độ xương bằng phương pháp Dual Energy X-ray Absorptiometry (DEXA)
Phương pháp sàng lọc tốt nhất là DEXA (Dual energy X-ray absortiometry). Đây là phương pháp đơn giản, nhanh chóng và cho kết quả chính xác. Nó đo mật độ xương cột sống, chậu, cổ tay, là những nơi dể bị ảnh hưởng của loãng xương nhất, và nó cũng là phương pháp để theo dõi sự biến đổi của xương một cách chính xác về lâu dài sau này.

Các phương pháp đo mật độ xương một cách chính xác khác:

o Siêu âm.
o Chụp CT Scanner (Quantitative computerized tomography scanning).

Bạn có nên đo mật độ xương không?
Nếu bạn là phụ nữ, Hiệp hội Loãng xương Quốc gia Hoa Kỳ (The National Osteoporosis Foundation USA) khuyên rằng, bạn nên đo mật độ xương nếu bạn không sử dụng estrogen và có các yếu tố sau:

o Trên 65 tuổi mặc dù không có các yếu tố nguy cơ.
o Ở thời kỳ sau mãn kinh và có ít nhất một yếu tố nguy cơ về loãng xương, bao gồm có gãy một xương.
o Có cột sống không bình thường.
o Đang sử dụng thuốc như prednisone
o Mắc bệnh tiểu đường type I, bệnh về gan, thận, tuyến giáp hoặc có tiền sử gia đình bị gãy xương.
o Mãn kinh xảy ra sớm.

Đối với nam giới, nói chung, bác sĩ không khuyên bạn sàng lọc loãng xương, bởi vì bệnh xảy ra ít hơn phụ nữ.

Biến chứng
Gãy xương là biến chứng nặng và thông thường nhất của loãng xương. Gãy xương thường xảy ra tại cột sống và xương chậu – là những xương trụ đỡ của trọng lượng cơ thể bạn. Gãy xương chậu thường là do té ngã. Mặc dù hầu hết bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật tiên tiến, gãy xương chậu vẫn có thể đưa tới kết quả các biến chứng tàn tật và ngay cả tử vong sau mỗ, đặc biệt đối với người già. Gãy xương cẳng tay cũng thường do té ngã gây nên.
Trong một vài trường hợp, gãy cột sống có thể xảy ra mà không do bất kỳ té ngã hoặc chấn thương nào, đơn giản vì cột sống của bạn đã trở nên quá yếu, bắt đầu xẹp. Gãy xẹp có thể gây cơn đau nặng và lâu hồi phục. Nếu bạn có nhiều gãy xẹp như vậy thì bạn có thể giảm chiều cao vài inches và tư thế gù.

Điều trị

Hormone liệu pháp
Hormone liệu pháp là một phương pháp điều trị loãng xương chính. Nhưng vì sự lo lắng đến vấn đề an toàn của nó và các phương pháp điều trị hiệu quả khác mà vai rò của hormone liệu pháp có sự thay đổi. Các vấn đề lớn nhất liên quan đến các thuốc hormone đường uống có hoặc không kết hợp với progestin. Nếu bạn muốn dùng hormone liệu pháp, các hình thức khác có giá trị, gồm băng dán, kem, vòng âm đạo.
Thảo luận với bác sĩ của bạn về sự lựa chọn loại nào có thể tốt nhất cho bạn.

Thuốc
Nếu không sử dụng hormone liệu pháp cho bạn, sự thay đổi lối sống không giúp kiểm soát được loãng xương của bạn thì kê đơn thuốc có thể giúp cho sự mất xương chậm lại và ngay cả tăng mật độ xương sau này. Gồm:

o Biphosphonates. Giống như estrogen, nhóm thuốc này có thể ức chế sự hủy xương, bảo vệ khối xương và ngay cả gia tăng mật độ xương tại cột sống và xương chậu, giảm nguy cơ gãy xương. Bisphosphonates có lợi đặc biệt đối nam giới, thanh niên và người có nguy cơ loãng xương do steroid. Chúng cũng được sử dụng để ngăn ngừa loãng xương ở người có yêu cầu điều trị steroid kéo dài như hen, viêm khớp. Tác dụng phụ, có thể nặng như nôn ói, đau bụng và nguy cơ viêm thực quản, loét thực quản, đặc biệt, nếu có tiền sử hội chứng trào ngược hoặc loét. Bisphosphonates có thể sử dụng đường uống 1 lần/1 tuần hoặc 1 lần/tháng có thể gây nên vài vấn đề về dạ dày. Nếu bạn không thể dung nạp Bisphosphonates bằng đường uống, bác sĩ của bạn có thể khuyên bạn dùng bằng đường tiêm truyền đường tĩnh mạch định kỳ.

Vào năm 2007, Cơ quan Thực phẫm và Dược phẫm Hoa Kỳ (The Food and Drug Association – FDA) đã chấp thuận lần đầu tiên sử dụng cho phụ nữ sau mãn kinh có loãng xương. Zoledronic acid (Reclast) được cho tiêm tĩnh mạch tại văn phòng bác sĩ. Cần khoảng 15 phút để nhận liều hằng năm của bạn. Một nghiên cứu đã xuất bản nhận xét rằng Zoledronic acid làm giảm nguy cơ gãy xương sống 70% và xương chậu 41%.

Một số nhỏ trường hợp hoại tử xương hàm đã được báo cáo ở những người đang sử dụng Bisphosphonates để điều trị loãng xương. Những trường hợp này xảy ra đầu tiên sau chấn thương xương hàm, như nhỗ răng hoặc điều trị ung thư. Nguy cơ xuất hiện cao hơn ở những người đã nhận Bisphophonates tỉnh mạch. Trong khi đó, hiện tại không có chứng cứ rõ ràng để bạn nên ngừng sử dụng Bisphophonates trước khi phẫu thuật răng, hãy để nha sĩ của bạn biết những thuốc bạn đang sử dụng và thảo luận các quan tâm của bạn

o Raloxifene (Evista). Thuốc này thuộc nhóm thuốc gọi là điều chỉnh receptor estrogen chọn lọc ( Selective estrogen receptor modulators – SERMs). Raloxifene tác dụng hửu ích trên mật độ xương như estrogen ở phụ nữ sau mãn kinh, không có nguy cơ liên quan với estrogen như ung thư tử cung, ung thư vú. Điểm chú ý về tác dụng phụ thông thường của raloxifene là bạn không nên dùng thuốc này nếu bạn có tiền sử về bệnh cục máu (blood clots). Thuốc này chỉ được chấp thuận cho phụ nữ bị loãng xương và hiện tại không chấp thuận sử dụng cho nam giới.

o Calcitonin. Một hormone sản xuất bởi tuyến giáp, calcitonin làm giảm tái hấp thu xương và làm chậm mất xương. Nó cũng ngăn ngừa gãy xương sống, giảm đau do gãy ép xương. Thuốc được sử dụng bằng đường hít qua mũi nên có thể làm kích ứng mũi ở một vài người khi sử dụng. Thuốc cũng có giá trị khi sử dụng đường tiêm. Vì calcitonin không có hiệu lực bằng bisphosphonates, thuốc này thường được thay thế cho những người không thể sử dụng các thuốc khác.

o Teriparatide (Forteo). Đây là một thuốc mạnh, tương tự hormone tuyến cận giáp (parathyroid hormone), điều trị loãng xương cho phụ nữ sau mãn kinh và nam giới có nguy cơ gãy xương cao. Không giống như các phương pháp điều trị loãng xương sẳn có khác, thuốc tác dụng bằng cách kích thích phát triển xương mới đồng thời ngăn ngừa mất xương. Teriparatide được tiêm dưới da tại đùi hoặc bụng 1 lần/ngày. Ảnh hưởng lâu dài của thuốc hiện còn đang được nghiên cứu, vì thế cơ quan FDA (Cơ quan thuốc và thực phẫm Hoa Kỳ) khuyến cáo giới hạn điều trị không quá 2 năm.

o Tamoxifen. Là một hormone tổng hợp được dùng để điều trị ung thư vú và để giúp giảm cơ hội phát triển ung thư vú ở phụ nữ có nguy cơ cao. Mặc dù tamoxifen ức chế tác dụng estrogen trên mô vú, nhưng nó có tác dụng như estrogen trên các tế bào khác của cơ thể bạn, bao gồm cả tế bào xương. Kết quả tamoxifen làm giảm nguy cơ gãy xương, đặc biệt ở phụ nữ tuổi trên 50. Các tác dụng phụ của tamoxifen gồm nóng rát, kích ứng dạ dày, khô âm đạo.
Các phương pháp điều trị nỗi bật (Emerging therapies)

Một chương trình vật lý trị liệu mới đã chứng minh có ý nghĩa về giảm đau lưng, cải thiện tư thế và giảm nguy cơ té ngã ở phụ nữ bị loãng xương cong cột sống. Chương trình phối hợp sử dụng một dụng cụ được gọi là Spinal weighted kypho-orthosis (WKO) - một khung áo có trọng lượng nhẹ và tập dãn lưng ra sau. WKO được mang hằng ngày khoảng 30 phút buổi sáng và 30 phút buổi chiều, tập ưởn lưng ra sau 10 lần mỗi buổi tập.

Dự phòng

Sử dụng đầy đủ calcium và vitamin D là yếu tố quan trọng trong việc giảm nguy cơ loãng xương. Nếu bạn đã bị loãng xương rồi, uống đầy đủ calcium và vitamin D cũng như các phương pháp khác có thể giúp phòng ngừa xương của bạn không bị yếu hơn.
Số lượng calcium bạn cần để bảo vệ sức khoẻ thay đổi tùy theo tuổi của bạn. Nhu cầu calcium của cơ thể bạn lớn nhất là vào thời kỳ niên thiếu và trưởng thành, khi bộ xương của bạn phát triển nhanh chóng và khi bạn mang thai hoặc cho con bú. Phụ nữ sau mãn kinh và người già cũng cần sử dụng calcium nhiều hơn. Vào tuổi bạn, cơ thể trở nên kém hấp thu calcium thì bạn sử dụng thuốc trợ giúp hấp thu calcium là phù hợp.

Bao nhiêu calcium và vitamin D
Phụ nữ tiền mãn kinh và sau mãn kinh có sử dụng hormon liệu pháp (hormon therapy) thì nên sử dụng ít nhất 1000 mg calcium và 800 UI vitamin D mỗi ngày. Phụ nữ sau mãn kinh không sử dụng hormon liệu pháp, những người có nguy cơ loãng xương do steroid và tất cả phụ nữ trên 65 tuổi nên dùng đến 1500 mg calcium và ít nhất 800 UI vitamin D mỗi ngày.

Nhận đầy đủ vitamin D cũng quan trọng như nhận đầy đủ calcium. Vitamin D không những giúp cải thiện sức khoẻ xương bằng cách giúp hấp thu calcium mà còn giúp cải thiện sức mạnh của cơ. Các nhà khoa học đang tiếp tục nghiên cứu về vitamin D – mà nó cũng có thể bảo vệ chống lại vài loại ung thư – và để xác định liều hằng ngày tối ưu, liều an toàn có thể lên tới 2.000 UI /ngày

Mặc dù nhiều người đã nhận đầy đủ vitamin D từ ánh sáng mặt trời, nhưng đây không phải là nguồn tốt nếu bạn sống ở vùng vĩ độ cao, nếu bạn ở nhà giam hoặc nếu bạn thường xuyên dùng màn che chắn ánh sáng hoặc bạn tránh ánh sáng mặt trời hoàn toàn vì sợ nguy cơ ung thư da. Mặc dù vitamin D có trong dầu cá hoặc phôi trứng nhưng bạn không ăn chúng hằng ngày. Hỗ trợ phối hợp calcium và vitamin D là một biện pháp lựa chon thay thế tốt.

Về calcium, các sản phẩm bơ sữa là một nguồn, nhưng không phải là duy nhất. Quả hạnh, bông cải, cải xanh nấu chín, cá hồi với xương đóng hộp, yến sào và sản phẫm đậu nành như tàu hũ đều rất giàu calcium. Nếu bạn khó khăn trong việc tìm nguồn thực phẫm giàu calcium thì bạn nên tìm nguồn calcium bổ sung. Nguồn bổ sung không mắc, hấp thu và dung nạp tốt nếu bạn sử dụng thích hợp. Thỉnh thoảng calcium bổ sung có thể gây nên táo bón. Nếu đây là vấn đề bạn lo lắng thì cần uống nhiều nước và ăn thêm thức ăn giàu chất xơ. Ngoài ra, cần kiểm tra loại calcium bạn đang dùng. Calcium phosphate và calcium citrate ít gây táo bón hơn. Calcium và vitamin D bổ sung hiệu quả nhất là dùng cùng nhau và chia liều cùng với bữa ăn.

Kinh nghiệm phòng ngừa khác.
    Các phương pháp này cũng giúp bạn phòng ngừa mất xương:

o Tập thể dục. Tập thể dục có thể giúp bạn củng cố sức mạnh của xương và lâu mất xương. Khi bạn bắt đầu tập thể dục thì chưa có lợi ích gì, nhưng bạn sẽ đạt được lới ích nhất nếu bạn bắt đầu luyện tập thường xuyên khi còn trẻ và tập liên tục lâu dài. Phối hợp bài tập sức mạnh với bài tập mang nặng. Luyện tập sức mạch giúp tăng cường cơ, xương của cánh tay và phần trên cột sống, luyện tập mang vác như đi bộ, chạy, leo cầu thang, nhảy dây, trượt tuyết chủ yếu ảnh hưởng lên chân, xương chậu, phần thấp cột sống của bạn.

o Bổ sung đậu nành vào chế độ ăn của bạn. Estrogen thực vật được tìm thấy trong đậu nành giúp bảo vệ mật độ xương và giảm nguy cơ gãy xương.

o Không hút thuốc lá. Hút thuốc làm gia tăng mất xương, có lẻ do giảm số lượng estrogen ở cơ thể phụ nữ và giảm hấp thu calcium ở ruột non. Tác dụng thứ yếu của hút thuốc trên xương chưa biết được.

o Xem xét hormone liệu pháp. Hormone liệu pháp có thể giảm nguy cơ loãng xương ở phụ nữ trong hoặc sau khi mãn kinh. Nhưng vì nguy cơ của các tác dụng phụ, cần thảo luận với bác sĩ của bạn và quyết định những gì tốt nhất cho bạn. Liệu pháp testosterone thay thế chỉ được sử dụng cho nam giới có loãng xương do nồng độ testosterone máu thấp.

o Tránh dùng cồn quá mức. Dùng hơn hai ly rượu mỗi ngày có thể làm giảm sự tạo xương và giảm khả năng hấp thụ calcium của cơ thể bạn. Mối liên quan giữa dùng rượu ở mức vừa phải và loãng xương chưa được rõ ràng.

o Giới hạn cà phê. Sử dụng lượng cà phê vừa phải - khoảng 2-3 cốc cà phê mỗi ngày sẽ không làm hại bạn khi chế độ ăn của bạn có đầy đủ calcium.

 Tự chăm sóc.

Những đề nghị này có lẽ giúp làm giảm triệu chứng và duy trì sự độc lập của bạn nếu bạn có loãng xương.

o Duy trì tư thế tốt. Giúp bạn tránh các tác động trên cột sống. Khi ngồi hoặc lái xe, đặt gối khăn nhỏ sau lưng bạn, đừng cúi nghiên quá khi đọc sách hoặc làm việc
o Tránh té ngã. Mang dày gót thấp, không có đế lót, kiểm tra dây điện, thảm, chỗ trơn trợt trong nhà có thể gây nên sự vấp ngã, đầy đủ ánh sáng trong nhà, lắp đặt tay vịn bên trong và ngoài phòng tắm và đảm bảo lên xuống giường ngủ một cách dễ dàng.
o Kiểm soát đau. Hãy bàn luận với bác sĩ để kiểm soát được triệu chứng đau, không bỏ qua các cơn đau mãn tính, bỏ điều trị có thề giới hạn cử động và đau nhiều hơn


BS Hồ Văn Sanh – BV Hoàn Mỹ Cửu Long
Biên dịch từ Website của Hiệp hội Nghiên cứu và Giáo dục Y khoa Mayo Hoa Kỳ - Mayo Foundation For Medical Education and Research (MFMER) – USA